Công khai các kết luận và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước-Yêu cầu về chất lượng, tính hữu ích và kỳ vọng của xã hội

PGS.TS ĐẶNG VĂN THANH

Những năm gần đây, trong đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam đã xuất hiện một kênh thông tin mới được xã hội và nhân dân rất quan tâm. Đó là việc công khai kết quả kiểm toán của kiểm toán nhà nước. Người dân và xã hội có thêm thông tin và sự đánh giá về tình hình tài chính nhà nước, tài chính quốc gia và trực diện là tình hình quản lý, tập trung, sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN). Đây là những đánh giá mang tính chuyên môn, khách quan về sự tin cậy của thông tin tài chính, sự chuẩn xác của các khoản thu, chi ngân quỹ nhà nước, NSNN. Đồng thời, cũng thấy rõ những sai phạm, những khiếm khuyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ quản lý và sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, của nhân dân cho việc công, cho lợi ích chung. Quốc hội, Hội đồng Nhân dân (HĐND) sử dụng kết quả kiểm toán nhà nước cho các quyết sách và điều hành đất nước. Không chỉ nêu ra những sai phạm, sự thiếu chính xác của các báo cáo tài chính, của hoạt động tài chính, các báo cáo kiểm toán nhà nước còn đưa ra các kiến nghị cả ở tầm vĩ mô, cả ở tầm vi mô với những kiến nghị cụ thể đối với các đơn vị được kiểm toán và các cơ quan chức năng quản lý của nhà nước. Đó là những kiến nghị có căn cứ pháp lý, có bằng chứng buộc phải thực hiện. Những kết luận và kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) có bản chất khác hẳn ý kiến tư vấn của các chuyên gia kiểm toán độc lập cung cấp dịch vụ kiểm toán cho các tổ chức cá nhân có yêu cầu trong nền kinh tế. Nhân dân xem xét, đánh giá kết quả kiểm toán, xem xét tình hình thực hiện các kiến nghị của kiểm toán để củng cố lòng tin về sự minh bạch của Chính phủ, góp thêm tiếng nói và dư luận để cảnh báo, răn đe và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân quản lý và sử dụng NSNN, chịu trách nhiệm trước dân, trước Nhà nước.
Có thể nói, sự hình thành hệ thống kiểm toán ở Việt Nam, mà trước hết là Kiểm toán độc lập, sau đó là KTNN là một đòi hỏi và là một tất yếu khách quan trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đảm bảo và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước trong  kiểm tra, kiểm soát tình hình thu, chi và quản lý NSNN, tình hình quản lý và sử dụng các quỹ quốc gia, các nguồn lực tài chính công, góp phần làm trong sạch bộ máy Nhà nước, đấu tranh chống tệ lãng phí, tham nhũng trong nền kinh tế.

Với chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của thông tin về ngân quỹ nhà nuớc, về NSNN; kiểm tra tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng NSNN, ngân quỹ quốc gia, và tài sản công của các đơn vị, tổ chức có sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước, KTNN đã phát hiện và kiến nghị tăng thu, giảm chi và đưa vào quản lý qua NSNN hàng chục nghìn tỷ đồng. Đó là những kết quả trực diện, có giá trị rất cụ thể. Nhưng điều có ý nghĩa quan trọng hơn chính là kết quả kiểm toán đã cung cấp những thông tin kịp thời, có độ tin cậy và tính thuyết phục cao cho Quốc hội, Chính phủ, HĐND và Uỷ ban nhân dân các cấp trong quá trình quản lý, điều hành và sử dụng NSNN, nhất là quá trình quyết định dự toán NSNN, quyết định phương án phân bổ Ngân sách, phê chuẩn quyết toán NSNN. Đồng thời, kết quả kiểm toán đã giúp các Bộ, ngành và các cơ quan có căn cứ đánh giá, đúc rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo đảm tính trung thực, minh bạch, hiệu quả, kinh tế và tiết kiệm. Qua kiểm toán đã phát hiện nhiều sơ hở, bất hợp lý về cơ chế chính sách hiện hành trong lĩnh vực quản lý điều hành ngân sách, trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, các chương trình, dự án v.v.. để kịp thời kiến nghị với Chính phủ, Quốc hội và cơ quan chức năng nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hoặc sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của nền kinh tế chuyển đổi, góp phần hoàn thiện và nâng cao quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN. Thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN đã giúp các đơn vị được kiểm toán có cái nhìn toàn diện và đúng đắn hơn về thực trạng tài chính, về chất lượng công tác quản lý kinh tế tài chính, kịp thời phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các biểu hiện cố tình vi phạm pháp luật về quản lý kinh tế, tiền và tài sản của Nhà nước, góp phần tích cực, có hiệu quả vào cuộc đấu tranh chống gian lận, tham nhũng và lãng phí, hạn chế thất thoát tài sản, tiền bạc của dân, của nước.

KTNN đã khẳng định vai trò, vị trí trong hệ thống các cơ quan kiểm tra, kiểm soát tài chính của Nhà nước; khẳng định sự phù hợp trong tiến trình cải cách hành chính ở nước ta và hội nhập kinh tế quốc tế.
Về mặt pháp lý, KTNN là công cụ để tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền và tài sản nhà nước, góp phần làm lành mạnh, minh bạch hoá nền tài chính quốc gia. Không chỉ kết quả kiểm toán mà cả những kiến nghị và tình hình thực hiện những kiến nghị của kiểm toán phải được công khai, minh bạch. Hoạt động KTNN phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước. Những sai phạm cần được phát hiện và công khai. Những kết luận, kiến nghị và kết quả thực hiện kiến nghị của KTNN cần được công khai, minh bạch. Xã hội và trước hết là nhân dân phải biết và thực hiện quyền giám sát của mình đối với các cơ quan, cá nhân mà họ bầu ra và ủy quyền, kể cả những người đại diện trực tiếp cho quyền lực của nhân dân.

 Về nguyên tắc, KTNN hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và trung thực, khách quan. Đây là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt quá trình hoạt động của KTNN, đảm bảo cho KTNN hoạt động có hiệu quả, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính và thông lệ quốc tế. Kết quả KTNN không chỉ có giá trị đánh giá và xác nhận độ tin cậy, tính đúng đắn của các báo cáo tài chính nhà nước phục vụ cho các quyết định của Quốc hội, HĐND, cơ quan quyền lực của nhân dân, mà quan trọng không kém là đánh giá việc tuân thủ pháp luật, tính kinh tế, tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, trong sử dụng ngân quỹ quốc gia, NSNN và tài sản quốc gia. Ý kiến của KTNN là ý kiến có căn cứ pháp lý, có bằng chứng cần được quan tâm, chấp hành và thực hiện đầy đủ. Nhân dân và người được nhân dân trao quyền đại diện cần biết được thực trạng ngân quỹ quốc gia cũng như tình hình quản lý và sử dụng ngân quỹ quốc gia. Đồng thời họ cũng cần biết được những sai phạm do kiểm toán phát hiện và kiến nghị có được thực hiện và tuân thủ hay không. Vì vậy, không chỉ tài chính quốc gia cần được công khai, minh bạch mà kết quả kiểm toán, tình hình thực hiện các kiến nghị của kiểm toán cũng cần được công khai hóa và minh bạch hóa. Công khai hóa và minh bạch hóa không chỉ là yêu cầu bắt nguồn từ công khai hóa và minh bạch hóa tài chính quốc gia mà quan trọng hơn là xu thế gắn liền với quá trình dân chủ hóa, quả trình cải cách hành chính, nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý tài chính nhà nước.

Trước hết, cần phải thống nhất về nhận thức về công khai kết quả kiểm toán, công khai kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán, về quan hệ giữa công khai kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán với công khai và minh bạch hóa tài chính quốc gia. Cần phải thấy rằng, trong cơ chế quản lý kinh tế của mỗi quốc gia, tài chính luôn luôn là tổng hoà các mối quan hệ kinh tế, là tổng thể các nội dung và giải pháp tài chính - tiền tệ. Tài chính không chỉ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, phát triển, khai thác các nguồn lực; thúc đẩy, duy trì  tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, mà còn phải quản lý, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước. Với chức năng tập trung, phân phối, giám đốc bằng đồng tiền và tổ chức luân chuyển vốn, nguồn vốn, tài chính là tổng hoà các mối quan hệ kinh tế gắn với phân phối tổng sản phẩm quốc dân và các nguồn tiền tệ trong quá trình hình thành, sử dụng các quỹ tiền tệ để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế - xã hội đã hoạch định.

Thứ hai, thiết lập, duy trì tính hiệu lực và hoàn thiện thể chế về công khai tài chính và các quy định pháp lý về công khai kết quả, công khai các kiến nghị và tình hình thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN.

Luật Ngân sách nhà nước 2002, Quyết định 192 /2004 của Chính phủ đã quy định nguyên tắc và nội dung công khai tài chính nhà nước. Luật KTNN cũng  đã có Mục 6 Chương IV quy định nội dung “ Công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán”. Điều 58 quy định: Công khai báo cáo báo cáo kiểm toán năm và báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán và Điều 59 quy định “ Công khai báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán”. Đây là những quy định pháp lý cần thiết để Tổng KTNN thực thi quyền công khai hóa của KTNN. Tuy nhiên cần tiếp tục có những quy định pháp lý phù hợp trong luật cơ bản, luật tài chính nhà nước và duy trì hiệu lực, hiệu quả luật đã có để đảm bảo nội dung, yêu cầu và quy phạm sử dụng thông tin qua công khai kết quả và thực hiện kiến nghị của KTNN.

Thứ ba, công khai hóa và minh bạch hóa kết quả thực hiện kết luận và kiến nghị của KTNN gắn liền với quá trình cải cách tài chính nhà nước và cải cách nền hành chính quốc gia.

Hiện nay, các quốc gia đang chứng kiến và đối mặt một sự thay đổi rất sâu rộng về phương thức tổ chức các hệ thống tài chính và sự thay đổi đang dần lan toả ra khắp thế giới. Tất cả các nền kinh tế, dù là phát triển hay đang phát triển đều phải đối mặt với vấn đề cải cách tài chính nhà nước và do ảnh hưởng mang tính hệ thống, cuộc cải cách này lại tác động ngược trở lại, lan từ nước này sang nước khác, khiến cho cơ chế tài chính nhà nước ngày càng trở nên tương đồng.

Có thể nhận thấy, trên cơ sở cải cách các định chế tài chính, chính Nhà nước cũng đang trải qua một thời kỳ biến đổi sâu sắc. Ở Việt Nam, cải cách tài chính nhà nước là một nội dung quan trọng của cải cách hành chính nhà nước và cải cách thể chế nhà nước. Nhưng cũng phải thấy, cải cách tài chính không phải là sự điều chỉnh, sắp đặt thuần tuý mang tính kỹ thuật. Đó chính là một hình thức quản lý mới đang dần được hình thành thông qua cải cách tài chính với khuôn mẫu là mô hình quản trị doanh nghiệp. Phải nói rằng, tài chính nhà nước là tổng hoà của nhiều quy trình đan xen, chồng chéo nhau giữa tác nhân quốc gia và quốc tế hết sức đa dạng. Cần suy nghĩ tìm tòi và hình thành một học thuyết, một phương thức về quản lý tài chính nhà nước, bởi vì xét trên cả khía cạnh kinh tế và chính trị, phương thức quản lý tài chính công có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng sống của không chỉ hôm nay mà  của cả các thế hệ tương lai.

Công khai kết quả kiểm toán, kiến nghị và thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN hướng tới tôn trọng những nhân tố tích cực của quá trình xây dựng nền hành chính quốc gia và đẩy lùi những tiêu cực trong hoạt động tài chính nhà nước, lành mạnh hóa các quan hệ tài chính. Công khai hóa và minh bạch hóa kiến nghị và thực hiện kiến nghị của KTNN phải tham gia và góp phần xây dựng bộ máy hành chính, bộ máy quản lý tài chính nhà nước ngày càng trong sạch, hiệu lực và hiệu quả, tham gia tích cực và quyết liệt vào mặt trận chống tham nhũng, lãng phí, chống thói vô trách nhiệm, sự kém cỏi trong quản lý và sử dụng  ngân quỹ quốc gia.

Thứ tư, công khai hóa, minh bạch hóa kiến nghị và thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN phục vụ đắc lực cho Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp xem xét và quyết định các vấn đề tài chính quốc gia, ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương.

Vấn đề của một nền tài chính quốc gia lành mạnh là đảm bảo sự kết hợp giữa một bên là quy trình ra quyết định về tài chính nhà nước, về ngân sách nhà nước một cách dân chủ, minh bạch và một bên là cơ chế quản lý nhà nước hợp lý, hiệu quả. Để dảm bảo có dân chủ thực sự  về ngân quỹ, ngân sách nhà nước cũng như nâng cao tính hiệu quả trong quản lý tài chính thì hệ thống tài chính phải công khai, minh bạch, các chủ thể quản lý và chính trị thực sự được đảm bảo thẩm quyền và chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Như vậy, công khai, minh bạch, kiểm tra, kiểm soát và trách nhiệm là những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện phương thức quản lý mới trong tài chính hướng tới mục tiêu quản lý tốt thu chi ngân sách, ngân quỹ nhà nước. Tăng cường quản lý tài chính nhà nước trong bối cảnh cải cách nền hành chính quốc gia chính là tăng cường khả năng Nhà nước trong điều tiết phát triển kinh tế - xã hội vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh. 
   
KTNN phải là công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình công khai tài chính, ngân sách. Kiểm toán nhà nước cần xứng đáng và thoả mãn tốt hơn kỳ vọng của công chúng và tham gia cùng Nhà nước, nhân dân duy trì một nền tài chính quốc gia có tiềm lực mạnh, minh bạch, hiệu quả, tăng cường quản lý và hiệu quả của tài chính nhà nước. 

Thứ năm, công khai hóa và minh bạch hóa kết luận, kiến nghị và thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN tạo điều kiện cho nhân dân, các cơ quan đại diện cho dân trong việc phân tích, đánh giá tác động các chính sách của nhà nước, có kiến nghị cần thiêt để có những điều chỉnh hợp lý và quyết sách kịp thời, phù hợp.

Kiểm toán Nhà nước, với chức năng kiểm tra, đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp, độ tin cậy của các thông tin, số liệu về NSNN, về hoạt động tài chính nhà nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng, độ tin cậy của thông tin tài chính-kế toán. Thông tin và ý kiến của KTNN cung cấp cho Chính phủ, Quốc hội, làm các căn cứ cho việc xem xét và đề ra  các quyết định ở tầm vĩ mô, thực hiện việc giám sát các hoạt động tài chính, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Bằng hoạt động chuyên môn, KTNN chỉ ra cái được, cái chưa được trong quản lý thu, chi NSNN với bằng chứng pháp lý, nghiệp vụ chuyên môn xác nhận số đúng, số tin cậy của thu chi công quỹ, dự toán thu, chi; của số thực thu, thực chi trong quyết toán ngân sách để Quốc hội, HĐND xem xét, thảo luận, quyết định. Quyết định của Quốc hội, của HĐND được dựa trên nhiều căn cứ, không chỉ kinh tế mà còn cả chính trị, xã hội. Những căn cứ mang tính chuyên môn, có chứng lý của KTNN rất quan trọng. Quốc hội, HĐND chỉ có thể thực hiện tốt chức năng, chỉ có thể đảm bảo được thực quyền trong các quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách, phê chuẩn quyết toán và giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, của HĐND về tài chính, ngân sách khi nhận được sự trợ giúp đắc lực của cơ quan chuyên môn. Với hoạt động độc lập, theo nguyên tắc khách quan và chỉ tuân theo pháp luật, KTNN là công cụ quan trọng thực hiện quyền lực của nhân dân bằng kiểm kê và kiểm soát trong xây dựng và quản lý đất nước; ý kiến và sự xác nhận của KTNN là sự đảm bảo độ tin cậy của các thông tin tài chính.

Thứ sáu, công khai kết luận, kiến nghị và thực hiện kết luận và kiến nghị của KTNN phải tiến hành trên cơ sở tuân thủ pháp luật, tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán, quy trình kiểm toán nhà nước. Nội dung và pham vi công khai kiến nghị và thực hiện kiến nghị của KTNN đảm bảo đầy đủ trung thực các kết luận và có bằng chứng kiểm toán, tuân thủ khuôn mẫu theo quy định và đủ các thông tin cần thiết cho từng đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán. Kết quả kiến nghị và thực hiện kiến nghị của KTNN sẽ hữu ích và phát huy tác dụng thực sự khi phù hợp yêu cầu, khả năng và quyền tiếp nhận thông tin của các đối tượng phù hợp môi trường quản lý, môi trường dân chủ hóa, minh bạch hóa.

Thứ bảy, kết quả kiến nghị và thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi việc sử dụng nó được khai thác một cách triệt để.

KTNN là hoạt động mang tính chuyên môn. Kết quả kiến nghị và thực hiện kiến nghị của KTNN là những ý kiến mang tính nghiệp vụ cao và trong không ít trường hợp phải có những kiến thức cần thiết về tài chính, về ngân sách, về quản lý tài chính và quản lý ngân quỹ nhà nước mới có những hiểu biết thấu đáo về ý kiến của kiểm toán. Trong không ít trường hợp đó là những ý kiến rất ngắn gọn, cô đọng hàm chứa những ý nghĩa chuyên môn, ý nghĩa kinh tế và có thể cả chính trị khá sâu xa. Vì vậy, sẽ rất có ích nếu kết quả kiến nghị và thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN  được sử dụng triệt để, có ích trong việc xem xét , quyết định về kinh tế, tài chính, quyết định về ngân sách nhà nước. Đặc biệt là sử dụng kết luận và thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN để đánh giá, phân tích, quyết định các chính sách luật, chính sách kinh tế tài chính. Đại biểu dân cử công tác trong các lĩnh vực, vị trí rất khác nhau, năng lực và trình độ hiểu biết về tài chính-ngân sách cũng không hoàn toàn giống nhau, do đó, để mọi đại biệu có thể sử dụng một cách hữu ích, hiệu quả kết quả kết luận, kiến nghị và thực hiện kiến nghị của KTNN trong quá trình thực hiện chức năng của mình thì rất cần có sự đánh giá, chọn lựa các ý kiến, kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán vào những hoạt động cụ thể của các cơ quan dân cử, cung cấp cho các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân những nội dung kết luận, kiến nghị. Muốn vậy, cần thành lập bộ phận chuyên môn độc lập ở Quốc hội, Hội đồng Nhân dân làm nhiệm vụ đánh giá và đưa ra ý kiến về khả năng sử dụng các kết quả, sử dụng các kết luận, kết luận, kiến nghị và kết quả thực hiện các kiến nghị của KTNN trong hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

Thứ tám, để kết luận, kiến nghị và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị thực sự có chất lượng, hữu ích và đảm bảo sự minh bạch thì rất cần nâng cao chất lượng kiểm toán, đảm bảo sự chính xác, tin cậy của các kết luận kiểm toán. Chất lượng kiểm toán quyết định tất cả , từ uy thế, tín nhiệm đến hiệu lực, hiệu quả cuối cùng của kiểm toán. Để đảm bảo chất lượng các kiến nghị và kết quả thực hiện kiến nghị của KTNN, cần phải nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp, trình độ năng lực của kiểm toán viên, của trưởng đoàn kiểm toán, kiểm toán trưởng và các nhà lãnh đạo KTNN. Tăng cường soát xét chất lượng kiểm toán. Hoàn thiện và công khai các quy chế quy trình kiểm toán, quy trình công khai kết quả kiểm toán.

Tóm lại, thực hiện công khai kiến nghị và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN là công việc cần thiết và quan trọng thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của KTNN. Công khai hóa và minh bạch hóa không chỉ là một xu thế mà đang trở thành một động lực làm lành mạnh hóa các quan hệ tài chính nhà nước. Kiểm toán nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm kê kiểm soát nền tài chính quốc gia và đảm bảo để nhân dân thực hiện quyền lực của mình đối với tài chính nhà nước thông qua người đại diện trực tiếp do cử tri bầu ra./.

Theo Tạp chí Kiểm toán số 4/2011